Vĩnh Định Trụ và Bình Toạ – một phương pháp kiến tạo mặt bằng thời Lý

Vĩnh Định Trụ và Bình Toạ – một phương pháp kiến tạo mặt bằng thời Lý

Trong kiến trúc gỗ truyền thống Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng, trụ cột chính là một trong những cấu kiện quan trọng nhất để kiến tạo và định hình bộ khung gỗ của một tòa nhà. Kiến trúc gỗ sử dụng cột gỗ đã phát triển trong hàng nghìn năm, từ cổ đại khởi nguyên với việc sử dụng cột chôn dưới đất (cột âm), sau đó dần định hình phương pháp sử dụng cột đặt trên mặt đất (cột dương) thay thế cột chôn (cột âm) diễn ra vào thời Đường – Tống.

Cột dương là phương pháp đặt trụ trên một chân tảng thường bằng chất liệu đá nằm trên mặt đất, phía dưới có thể được gia cố móng trụ, cột âm là cột được chôn cắm trong lòng đất, dưới chân cột âm cũng có thể có gia cố thêm đá tảng hoặc đế gỗ để chống lún. Sở dĩ cột gỗ không chôn dưới mặt đất nhưng vẫn tạo sự ổn định cho công trình là nhờ chính sức nặng của công trình đó đè xuống và các liên kết xà ngang xà dọc đảm bảo sự ổn định trước các lực xô. Cột dương dần trở nên phổ biến và thay thế cột âm vì việc chôn cột xuống đất là không còn cần thiết ở đại đa số công trình, ngoài ra cột dương cũng ổn định và bền hơn cột âm vì trong lòng đất luôn có một độ ẩm nhất định cùng các tác động sinh học có thể làm giảm tuổi thọ và khả năng chịu lực của cây cột, cột dương cũng có thể dễ tháo lắp và di dời khi cần thiết.

Kiến trúc gỗ Việt Nam còn tồn tại trên mặt đất hiện nay cũng là loại hình sử dụng cột dương (ngoại trừ cổng chùa Kim Liên với một hàng cột nên được chôn xuống trong cuộc trùng tu năm 1985).

Cũng giống như kiến trúc gỗ khu vực Đông Á nói chung, hình thức sử dụng cột của kiến trúc Việt Nam cũng được phát triển từ hình thức cột chôn được sử dụng vào thời Đại La và thời kỳ Đinh – Tiền Lê thành hình thức cột đặt trên chân tảng trên mặt đất, được gia cố móng chặt chẽ vào thời Lý – Trần.

Có một đặc điểm khác lạ trong việc sử dụng cột vào thời Lý với các hệ thống mặt bằng được khai quật tại Hoàng Thành Thăng Long, đó là xuất hiện một số kiến trúc sử dụng cả hệ thống chân tảng đặt trên nền móng (cột dương) và các cột chôn sâu xuống lòng đất (các công trình mang ký hiệu LY.B.KT013; LY.B.KT023; LY.B.KT029; LY.B.KT034).
Việc sử dụng cả cột âm và cột dương trong kiến trúc gỗ Đông Á có thể tìm thấy trong kiến trúc Nhật Bản vào thời kỳ Nara trước thế kỷ thứ 10, tuy nhiên đó là sự kết hợp giữa các công trình dùng hoàn toàn cột âm hoặc hoàn toàn cột dương để đỡ mái. Điều này đã đặt ra nhiều câu hỏi về hình thái kết cấu gỗ phía trên mặt bằng khai quật của các công trình, với đặc điểm chung của những công trình có sử dụng kết hợp cột âm và cột dương này là các cột âm chỉ nằm ngoài cùng của bó nền, tương ứng với vị trí hiên, vì vậy có một số ý kiến cho rằng đó là các cột đỡ hiên được đặt thêm vào sau này sau một thời gian bộ mái dần xuống cấp, như ở trường hợp chùa Thầy hay đình Tây Đằng.

Tuy nhiên, các cột phụ gia cố đầu bẩy như ở chùa Thầy hay đình Tây Đằng thực chất là mang tính tạm bợ, không đồng đều, ở một số công trình khác việc gia cố này chỉ diễn ra ở góc, hơn nữa chúng đều cũng là các cột dương đặt trên mặt đất. Ngoài ra trong kỹ thuật gia cố, các cột gỗ có thể được đưa từ phương ngang với các rãnh mộng được tạo tác trước rồi dùng các lực tác động theo phương ngang đẩy các cột gia cố vào cấu kiện đang xuống cấp, hoặc sẽ cắt xén một phần cấu kiện xuống cấp rồi chèn cột gỗ theo phương ngang hoặc chéo vào hoặc đẩy cột gỗ từ dưới lên rồi chêm vào tảng kê chân cột, với việc đào hố chôn cột chết xuống dưới đất thì không thể làm được việc này trừ khi phải đào ra với một phạm vi lớn sẽ đào vào phần móng của các cột và bó nền phía trong. Việc các cột âm ở những công trình này được bố trí đồng đều với tổng thể mặt bằng chung của công trình và khá sát các móng cột dương, chúng tôi không cho rằng đây là những cây cột được bổ sung sau này để gia cố mái.

Tham khảo thêm:

Trong bài viết này chúng tôi sẽ đưa ra thêm những luận điểm giải thích cho những cây cột âm trong kiến trúc thời Lý.

Cột âm và cột dương trong kiến trúc nhà Lý
Cột âm và cột dương trong kiến trúc nhà Lý

1. Phác họa hình thức cột âm và cột dương trên cùng một đơn nguyên kiến trúc. Ảnh Viện nghiên cứu kinh thành
2. Dấu tích cột âm đặt trên móng bè thời Đinh – Tiền Lê. Ảnh Tống Trung Tín
3. Dấu tích cột dương đặt trên chân tảng – kiến trúc thời Lý ở Hoàng Thành Thăng Long. Ảnh Tống Trung Tín
4. Hình ảnh phỏng dựng đoạn tường bao trong di tích cung điện Heijo sử dụng 1 hàng cột chôn
5. Phương pháp dùng cột chôn (hottatebashira 掘立柱) trong kiến trúc Nhật Bản thời kỳ Nara (Cung điện Heijo). Ảnh blog.goo.ne.jp gooogami
6. Cột dương kê trên tảng chân cột thời Lê Trung Hưng và cột phụ gia cố đầu bẩy ở chùa Thầy. Ảnh Nguyễn Duy

Cột âm trong kiến trúc trung tâm Chùa Dạm

Trong cuộc khai quật lớn tại chùa Dạm (Bắc Ninh) năm 2011-2012 đã phát hiện mặt bằng công trình thời Lý gồm 4 cấp nền, mỗi cấp cao khoảng từ 4-8m, tại khu vực cấp nền thứ 4 đã phát lộ một kiến trúc lớn thời Lý ở khu vực trung tâm cấp nền với diện tích mặt nền khoảng 628.12m2 (32.8mx19.15m), với lòng nhà gồm 5 gian chính và hàng hiên bao quanh có mặt nền thấp hơn khoảng 60cm. Đặc biệt là khu vực xung quanh bó nền lòng nhà xuất hiện các hố cột đục xuống nền đá, ở khu vực phía Bắc, phía Đông Bắc và Tây Bắc (phần phía Bắc của lối đi lên từ 2 hành lang Đông, Tây) có 2 hàng cột với các hố cột nằm so le nhau, hàng cột phía trong nằm sát bó nền; phần phía nam xuất hiện 1 hàng hố cột.

Đặc biệt ở khu vực phía Bắc gian chính giữa xuất hiện lối đi lên với một dạng thành bậc đặc biệt, bao gồm 1 phiến đá dạng tam giác có điêu khắc hình tượng rồng nằm sát bậc đi lên, và một tượng sư tử đặt nằm ngang, phía dưới thành bậc tam giác và lệch lên phía Bắc. Điểm cuối của thành bậc tam giác hướng đi vào trong nằm sát với hàng cột bó nền và điểm cuối (cuối đuôi sư tử) nằm sát với hàng hố cột thứ 2 từ trong ra.

Chính hình thức đặc biệt này đã gợi ý về chức năng của các hố cột đặt xung quanh lòng nhà. Ở phía Bắc công trình, hàng hố cột thứ nhất nằm sát bó nền vừa có chức năng kiến tạo phần bó nền, vừa có chức năng đỡ lấy phần sàn phía trên và cắm các cột lan can bao quanh công trình. Hàng hố cột thứ 2 tạo nên 1 cấp sàn nữa thấp hơn khiến cho thành bậc hình sư tử được đẩy lên phía trên và nằm thấp hơn so với thành bậc tạo hình rồng.
Ở phía Nam công trình chỉ có 1 hàng hố cột nằm cách bó nền tạo thành 1 cấp sàn. Như vậy kiến trúc này có 2 cấp sàn ở phía Bắc (phía thành bậc tam giác) và 1 cấp sàn ở phía Nam, điều này có thể giải thích vì mặt phía Nam của công trình khá sát với vách cấp nền thứ 4 do vậy người ta muốn hạn chế đi lại ở khu vực này.

Hình thức 2 cấp bệ này có thể gặp trong kiến trúc Nhật Bản vào thời kỳ Asuka điển hình là chùa Pháp Long (Hōryū-ji) được gọi là nijuu kidan (二重基壇). Tuy nhiên các cấp nền này được tạo từ đá còn tại kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm, cả 2 cấp đều được tạo từ các cọc gỗ chôn kết hợp với bó nền để đồng thời đỡ sàn gỗ và tạo thành hàng lan can phía trên.
Tại Hoàng Thành Thăng Long cũng từng đào được hình thức sư tử thành bậc như ở chùa Dạm, điều đó đã tạo thêm gợi ý về một hình thức nền hoặc sàn tương tự.

Nguồn tham khảo:
– Kết quả khai quật khảo cổ học khu di tích chùa Dạm Bắc Ninh – Nguyễn Văn Đáp
– Văn hiến Thăng Long bằng chứng khảo cổ học – Tống Trung Tín

Cột âm ở Chùa Dạm

1. Minh họa hình thức thành bậc và cấp nền, sàn kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm
2. Chi tiết mặt bằng hố cột và thành bậc phía Bắc kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm. Bản vẽ Viện Khảo Cổ
3. Chi tiết thành bậc và bó nền kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm. Ảnh Trịnh Hoàng Hiệp
4. Chi tiết thành bậc điêu khắc sư tử ở phía Bắc kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm. Ảnh Trịnh Hoàng Hiệp
5. Chi tiết thành bậc chạm rồng phía Bắc kiến trúc trung tâm tầng nền 4 chùa Dạm. Ảnh Trịnh Hoàng Hiệp
6. Thành bậc sư tử đá nằm ngang, khai quật tại di tích 18 Hoàng Diệu. Ảnh Tống Trung Tín
7. Giới Đàn chùa Long Hưng (Hà Bắc, Trung Quốc) với các cấp nền được xây dưới thời Tống
8. Yumedono (Mộng Điện) chùa Pháp Long (Nara) với bó nền 2 cấp bằng đá. Ảnh wikipedia

Tham khảo kiến trúc điện Hàm Nguyên thời Đường

Đại Minh Cung là quần thể cung điện hoàng gia của nhà Đường nằm phía Đông Bắc kinh thành Trường An, là một trong những quần thể kiến trúc lớn nhất và quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Đại Minh Cung được khởi công xây dựng dưới thời Đường Thái Tông 634, trở thành trung tâm chính trị quyền lực của toàn lãnh thổ nhà Đường từ thời Đường Cao Tông kéo dài hơn 200 năm.
Trung tâm của Đại Minh Cung là điện Hàm Nguyên, chính điện quan trọng nhất dưới triều Đường, được xây dựng vào năm Long Sóc thứ 2 (Đường Cao Tông 663).

Hai cuộc khai quật khảo cổ của Trung Quốc từ năm 1959-1960 và 1995-1996 tại khu vực Đại Minh Cung đã phát lộ hệ thống mặt bằng, nhiều di vật thuộc về tàn tích điện Hàm Nguyên. Kết quả khảo cổ cho thấy điện Hàm Nguyên có kích thước chiều dài từ Đông sang Tây là 76.8m và chiều sâu Bắc Nam là 43m với 11 gian chính và hàng hành lang xung quanh tổng cộng tạo thành 13 gian.
Đặc biệt tại đây xuất hiện các hố chôn cột phụ có đường kính 30cm với 2 hàng xung quanh móng cột chính có cao độ bằng nhau và xuất hiện ở cả hành lang phía Đông và Tây (Thông Càn môn, Quan Tượng môn).

Đặc điểm chung của các hố cột này với các hố chôn cột âm trong một số kiến trúc thời Lý là chúng chỉ được bố trí ở các vị trí ngoài hiên công trình, nằm ở cấp nền phía dưới lòng nhà. Dựa vào các bích họa cổ về kiến trúc thời Đường và sách Doanh Tạo Pháp Thức, các hố cột ở di tích điện Hàm Nguyên được các nhà khoa học Trung Quốc xác định là “Vĩnh Định trụ” (永定柱), có tác dụng là tạo nên một mặt sàn phẳng được gọi là “bình tọa” (平座), mở rộng mặt bằng sử dụng của công trình với cao độ sàn tương ứng với lòng nhà. Bởi vì các cột này được chôn dưới đất, vì thế trong phương pháp sử dụng trụ Vĩnh Định ở điện Hàm Nguyên chúng không bắt buộc phải thẳng hàng với các cột chính để liên kết với các cột chính mà tự chúng đã tạo ra sự ổn định cho kết cấu sàn phía trên, mặc dù vậy cũng có các phương pháp sử dụng trụ Vĩnh Định chôn dưới đất thẳng hàng với các cột chính và phương pháp sử dụng trụ Vĩnh Định trên mặt đất trong sự phát triển của kiến trúc các thời kỳ sau.
Nguồn tham khảo: Rethinking Architectural Archeology Research Methods: A case study of the Hanyuan Hall in Daming Palace – Meng-Chi Hsueh

1. Mặt bằng khảo cổ điện Hàm Nguyên. Bản vẽ Viện Nghiên cứu Quốc gia về Tài sản Văn hóa Nara, Danh mục Thành phố Cổ Nhật Bản-Trung Quốc
2. Bản vẽ mặt cắt điện Hàm Nguyên năm 1973 của Phó Hi Niên – Viện sĩ Khoa Xây dựng, Thủy lợi và Kiến trúc, Học viện Kỹ thuật Trung Quốc, thể hiện các trụ Vĩnh Định đỡ sàn
3. Tháp xá lợi dưới địa cung chùa Pháp Môn tỉnh Thiểm Tây, mô phỏng hình thức kiến trúc với các trụ đỡ sàn ở bên ngoài
4. Một phần bích họa Kinh biến A Di Đà trong hang Đôn Hoàng 205 tả một thức lầu các với các trụ vĩnh định cắm dưới nước đỡ sàn và lầu phía trên
5. Một phần tranh khắc Lương triều phó đại sĩ tụng kim cương kinh, thời Ngũ Đại, thế kỷ 10, miêu tả một dạng kiến trúc với trụ vĩnh định cắm dưới đất đỡ sàn
6. Dấu vết nền móng và hố cột của điện Hàm Nguyên. Ảnh Viện khảo cổ Trung Quốc 1960

Vĩnh Định Trụ và Bình Toạ

Vĩnh Định Trụ và Bình Toạ

Vĩnh Định trụ được đặt tên theo phương pháp chôn cột dưới lòng đất, tuy nhiên từ sau thời Đường phương pháp này dần bị loại bỏ nhưng vẫn được áp dụng bằng các phương pháp khác mà vẫn giữ lại cái tên nguyên thủy là Vĩnh Định trụ.

Sách Doanh Tạo Pháp Thức (quyển bốn) của Lý Giới (thời Bắc Tống) mô tả:
“Để kiến tạo bình tọa, trên mặt đất trước tiên dựng trụ, gọi là trụ Vĩnh Định, trên trụ đặt đầu xà, trên xà đặt phổ phách phương, trên đó đặt tiếp đấu củng”.

Nguyên văn:
“凡平座先自地立柱,谓之永定柱,柱上安搭頭木,木上安普拍枋,枋上座枓栱”
(Dịch bởi Phạm Vũ Lộc và Nguyễn Duy)
Trong đó:
平座 – Bình tọa: là phần bệ hoặc sàn gỗ đua ra khỏi lòng nhà, tạo thành hiên ở tầng một hoặc ban công ở các dạng lầu các có nhiều tầng, có nhiều phương pháp xây dựng bình tọa trong đó có phương pháp dùng trụ độc lập là trụ Vĩnh Định, hoặc sử dụng đấu củng, xà ngang, ván sàn,… từ trong đua ra.
普拍枋 – Phổ phách phương: là thanh gỗ dẹt đặt trên đầu cột, chiều rộng lớn hơn đường kính đầu cột, trên đó đặt đấu củng.

Vĩnh Định trụ là theo cách làm mà gọi tên, cụ thể cách làm là cắm trụ xuống dưới đất, phía dưới trụ lấy chương mộc (gỗ long não) làm chân đế, bởi vì chôn vào đất thành cố định, nên được gọi là Vĩnh Định trụ.
Kiến trúc Trung Quốc đã dần chuyển biến hình thức trụ vĩnh định từ việc chôn xuống dưới đất có chôn thêm gỗ dưới chân chống lún thành dạng đặt trụ lên khỏi mặt đất nhưng vẫn giữ hình thức đặt trên một đế gỗ, rồi dần được áp dụng trong cả các hình thức xây dựng lầu gác, ban công, trụ Vĩnh Định trở thành một dạng cột dương hoặc cột trốn nhưng vẫn giữ mục đích kiến tạo bình tọa, hình thức chôn cột từ đó dần loại bỏ hoàn toàn. Trong kiến trúc Nhật Bản, các cột đỡ sàn ở ngoài hành lang các điện cũng đều là các cột dương.

Một số tranh vẽ hay bích họa vào thời Tống có vẽ các dạng kiến trúc có sử dụng các hình thức trụ Vĩnh Định và Bình tọa. Trong đó có tranh Thủy điện chiêu lương đồ – 水殿招凉图 của Lý Tung (hình 1) có thể hiện rõ ràng nhất việc áp dụng trụ Vĩnh Định để kiến tạo bình tọa và trên bình tọa có đặt thêm cột để đỡ mái hiên phụ. Trụ Vĩnh Định ở đây không còn cắm xuống đất nữa mà đặt trên một đế gỗ có 2 đầu dư tại vị trí giao nhau.

Đế gỗ này được gọi là Địa phục (地栿), đây là một dạng cấu kiện kiến trúc cổ xưa được sử dụng để đặt các hàng lan can, chân cột đã thấy xuất hiện từ thời Đường, được sử dụng kết hợp với hình thức trụ vĩnh định để kiến tạo phần sàn của các loại vọng lâu trên cổng thành hoặc điện đài. Nguồn gốc sơ khai của chúng chính là các đế gỗ chống lún chôn cùng dưới chân cột, khi hình thức cột dương dần thay thế, chúng cũng được nhấc lên trên mặt đất theo và thường xuyên được sử dụng chung với trụ Vĩnh Định, tuy nhiên nó cũng có thể sử dụng với các cột chính mà còn tồn tại khá nhiều trong kiến trúc Nhật Bản.
Ngoài ra, trụ Vĩnh Định còn được sử dụng như là một trong các phương pháp chồng tầng trong xây dựng lầu gác, hình thức sử dụng hai cột song song, cột trong (vĩnh định trụ) đỡ đấu củng bình toạ, cột ngoài đỡ mái hiên tầng một, phương pháp này gọi là “vĩnh định trụ tạo”. Trung Quốc còn tồn tại một số công trình lầu gác sử dụng hình thức vĩnh định trụ tạo, sớm nhất là Từ Thị các ở chùa Long Hưng (Chính Định, Hà Bắc) (hình 5).

Tham khảo:
– 梁思成全集 (第七卷)- 营造法式注释 [Lương Tư Thành Toàn Tập – Quyển 7 – Danh Tạo Pháp Thức chú thích]
– 中国古代木楼阁 – 马晓 [Trung Quốc cổ đại mộc lâu các – Mã Hiểu -2007]
baike.baidu.com
1. Tranh quạt lụa Thủy điện chiêu lương đồ 水殿招凉图, họa sỹ Lý Tung 李嵩, Nam Tống
2. Vạn Bộ Hoa Nghiêm Kinh Tháp, kiến trúc thời Liêu ở Hồi Hột Nội Mông thể hiện hình thức Vĩnh Định Trụ và Bình tọa bên dưới đài sen. Ảnh weibo SingSing行摄
3. Phần chân cột cắm trên đế gỗ của tháp Từ Thị ở Đôn Hoàng, kiến trúc thời Tống, ảnh laoziliao.net
4. Hình thức cột cắm trên đế gỗ ở di tích cung điện Nam Việt nhà Triệu, Quảng Châu, Quảng Đông. Ảnh thepaper.cn
5. Kết cấu “vĩnh định trụ tạo”, gác Từ Thị, chùa Long Hưng, Chính Định, Hà Bắc
6. Một phần tranh Thanh minh thượng hà đồ清明上河图, Trương Trạch Đoan 张择端, Bắc Tống với hình thức vĩnh định trụ – bình tọa và lan can cắm trên đế gỗ
7. Một phần tranh Kim minh trì tranh tiêu đồ 金明池争标图, Trương Trạch Đoan, Bắc Tống, thể hiện hình thức trụ vĩnh định đặt trên đế gỗ có đầu dư

Vĩnh Định Trụ và Bình Toạ trong kiến trúc Việt Nam (thời Lý)

Những định nghĩa về Vĩnh định trụ và Bình tọa phía trên đã mở ra những câu trả lời cho hình thức dùng cột âm trong một số di tích kiến trúc thời Lý ở Hoàng Thành Thăng Long, chúng chính là các cột đỡ phần sàn đua của các công trình này.

Điều thú vị nhất là với những định nghĩa sơ khai ban đầu, kiến trúc cổ Việt Nam còn lại đến bây giờ có một công trình sử dụng trụ Vĩnh Định chôn dưới đất để tạo ra bình tọa và trên bình tọa cắm cột đỡ mái, đó chính là Liên Hoa đài của chùa Diên Hựu. Phần cột đá dưới mặt nước được chôn sâu dưới lòng đất chính là một dạng trụ Vĩnh Định. Từ đầu trụ đặt các dầm gỗ để tạo lên phần sàn gỗ và có thể đã từng tồn tại một đài sen, trên đầu các dầm gỗ này được đặt thêm các cột để hình thành lên một tòa điện bên trên.
Như vậy hình thức của các loại kiến trúc một cột dưới thời Lý có thể đã được áp dụng hình thức trụ Vĩnh Định – bình tọa kết hợp với hình thức một cột trục xoay, cả hai có thể đã cùng được du nhập dưới thời Đường hoặc thời Tống (Xem thêm bài “Kiến trúc một cột và trục xoay thời Lý đặt trong bối cảnh kiến trúc Đông Á” của Phạm Văn Triệu và Phạm Lê Huy).

Từ đó, chúng tôi tiến đến áp dụng hình thức này để giải mã về các hình thức kiến trúc một cột khác của thời Lý như “Độc trụ lục giác liên hoa chung lâu” được ghi chép trong Việt sử lược hay cột đá chùa Dạm. Cuộc khai quật lớn ở chùa Dạm năm 2011-2012 cho biết phần cột đá này không chỉ được bó bằng các tảng đá hình sóng nước mà nó còn chôn sâu xuống dưới đất, trên đầu trụ có các lỗ ngàm và rãnh dầm, đây chính là các hệ thống dầm gỗ để tạo nên phần sàn phía trên cùng với đài sen và từ đó dựng thêm các cột để đỡ lấy toà lầu phía trên.

Vĩnh định trụ và Bình toạ trong kiến trúc chùa Một Cột và chùa Dạm

1. Liên Hoa đài ngày nay, chùa Diên Hựu, Hà Nội
2. Phỏng dựng lầu chuông sáu cạnh thời Lý trên cột đá chùa Dạm

Vĩnh Định Trụ trên đế gỗ thời Lý Trần

Ngoài hình thức trụ Vĩnh Định chôn dưới đất, dưới thời Lý Trần còn có thể tồn tại cả các hình thức khác như đặt trên đế gỗ.
Khu di tích 18 Hoàng Diệu không chỉ đào được các kiến trúc với sự kết hợp của cột âm và cột dương, tại đây còn phát lộ được một dạng kiến trúc có 1 hàng cột gỗ cắm trên chân đế gỗ phía ngoài một bó nền được tạo từ các hàng gạch và cột gỗ với phần nền có chiều cao gần 2m vượt trội so với phần chân các hàng cột gỗ. Dạng thức kết hợp cột gỗ bó nền này đã bắt gặp tại chùa Dạm và ở di tích này còn nguyên các chân cột ở bó nền và các chân cột ở phía ngoài bó nền, các cột phía ngoài này không tạo bó nền mà kết hợp với hàng cột gỗ phía trong tạo thành 1 cấp sàn. Đây chính là dạng hình thức Địa phục – vĩnh định trụ – bình tọa.

Đến thời Trần, tại khu di tích Hắc Y (Lục Yên – Yên Bái), cuộc khai quật năm 2016-2017 đã phát lộ nhiều di vật, mặt bằng kiến trúc thời Trần, trong đó có một tòa tháp với mặt bằng vuông mỗi cạnh khoảng 4m (hình ). Đặc biệt phần đế tháp có mô phỏng hình thức trụ đặt đấu đỡ đài sen, phía dưới chân trụ thể hiện đế đặt chân với hai đầu dư lộ ra ngoài, đài sen đặt thân tháp phía trên, có thể hiểu chính là một hình thức bình tọa. Như vậy từ thời Lý đến thời Trần, hình thức trụ Vĩnh Định có thể cũng đã được phát triển từ việc chôn dưới đất thành dạng đặt trên đế gỗ trên mặt đất.

Trong việc sử dụng trụ Vĩnh Định cho kiến trúc lầu gác, mặc dù đến nay chúng tôi chưa thấy có bằng chứng hoặc hiện vật cụ thể nào, tuy nhiên trên một số hình trang trí tháp Phật được khắc trên gạch thời Lý có mô phỏng các tháp có sự xuất hiện của sàn đua ra và có lan can bao quanh, đây có thể chính là hình thức bình tọa, ban công. Với việc xuất hiện hình thức trụ Vĩnh Định, bình tọa dưới thời Lý thì cũng có nhiều khả năng hình thức này cũng sẽ được sử dụng trong các loại hình lầu gác.

Loại hình kiến trúc lầu gác sử dụng sàn đua và cột lầu nằm trên phần sàn đua này vẫn tồn tại trong kiến trúc Việt Nam vào thời kỳ Lê Trung Hưng để lại đến ngày nay một số công trình như gác chuông chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm Tự – Chương Mỹ, Hà Nội), gác chuông chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự – Xuân Trường, Nam Định), gác chuông chùa Sổ (Hội Linh quán – Thanh Oai, Hà Nội), gác chuông chùa Đậu (Thành Đạo tự – Thường Tín, Hà Nội).
Trong đó hình thức dựng tầng lầu tại gác chuông chùa Đậu có sử dụng một trụ trốn đặt trên vì nách của tầng trệt để hỗ trợ đỡ dầm sàn đua ra từ thân cột cái, trên đầu các dầm sàn đặt thêm xà ngang kết nối rồi trồng cột lên trên để mở rộng mặt bằng sử dụng của tầng gác, hình thức này thấy rõ hơn từ phía ngoài ở gác chuông chùa Trăm Gian với các xà ngang đặt trên dầm sàn này tạo thành hai đầu dư ở góc. Phương thức sử dụng các loại cột trốn đặt trên sàn đua như vậy dần biến mất trong kiến trúc thời Nguyễn ở Huế.

Tham khảo:
– Văn hiến Thăng Long bằng chứng khảo cổ học – Tống Trung Tín
– Thử dựng lại tòa tháp lớn di tích Hắc Y (Yên Bái) từ kết quả khai quật khảo cổ học – Phạm Như Hồ (Viện khảo cổ học)

Vĩnh Định Trụ trên đế gỗ

1. Họa tiết trên đĩa gốm khai quật ở tàu đắm Cù Lao Chàm, thời Lê sơ, miêu tả hình thức kiến trúc lầu các với việc sử dụng bình tọa bằng đấu củng và các cột hiên dựng trên sàn
2. Bệ tháp tại di tích Hắc Y, thời Trần. Ảnh Bảo tàng Yên Bái
3. Gạch in hình tháp Phật, thời Lý. Ảnh Viện Nghiên cứu kinh thành
4. Gác chuông chùa Trăm Gian. Ảnh Nguyễn Duy
5. Dấu tích kiến trúc thời Lý hàng cột cắm trên đế gỗ và bó nền bằng gạch tại di tích 18 Hoàng Diệu. Ảnh Tống Trung Tín
6. Trụ trốn đỡ dầm sàn gác chuông chùa Đậu. Ảnh Nguyễn Duy
7. Gác chuông chùa Đậu. Ảnh Nguyễn Duy

Phục dựng kiến trúc Đài Đèn Quảng Chiếu thời Lý

Đài Đèn Quảng Chiếu theo di tích khảo cổ

Với việc định nghĩa về các cột âm trong các kiến trúc thời Lý là cột đỡ sàn, chúng ta có thêm một số câu trả lời cho một loại hình kiến trúc đặc biệt nữa trong quần thể di tích kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long. Đó là cụm di tích khu G (HTTL.G.LY.KT02) gần khu vực nhà Quốc Hội hiện nay.

Cụm di tích này bao gồm 2 kiến trúc phụ mặt bằng tròn với đường kính 1,5m, cách đều từ tâm của kiến trúc trung tâm từ hai phía là 9,6m, xung quanh có các cọc gỗ nhỏ đóng thành hình tròn; ở giữa là khối gỗ lõm đường kính 0,3m, bề mặt có 4 thanh gỗ xếp so le. Kiến trúc trung tâm lớn hơn, cũng có mặt bằng tròn với đường kính 13,22m gồm 3 lớp. Lớp trong là tường kè gỗ hình vuông có diện tích 2,9×2,9m, nằm dưới độ sâu hơn 2m; trung tâm là một khối đá lớn khoét lõm hình tròn với đường kính 0,66m được giữ bởi 4 thanh gỗ lớn xếp so le chồng 2 lớp liên kết bằng mộng, có một đường dẫn đi xuống khu vực không gian kè gỗ từ phía nam dài 5,62m, rộng 1,56m. 2 lớp bên ngoài là 2 hàng vòng tròn, mỗi hàng được tạo bởi 16 hố chôn cột, với các đường kính lần lượt là 8,47m và 13,22m.

Cả 3 kiến trúc này với đặc điểm trung là có một cối quay ở giữa, trong đó cối của kiến trung trung tâm làm bằng đá và hai bên làm bằng gỗ. Một số học giả có ý kiến cho rằng đây chính là kiến trúc liên quan đến lễ hội Đèn Quảng Chiếu được nhiều lần ghi chép trong sử sách và văn bia, như GS Lưu Trần Tiêu, GS Ngô Đức Thịnh, PGS Trần Trọng Dương… Chúng tôi cũng đồng tình với các ý kiến trên, tuy nhiên chú ý thêm, hội đèn Quảng Chiếu được các sách sử ghi chép có nhiều lễ hội diễn ra ở các niên đại khác nhau, hệ thống di tích kiến trúc ở khu G đang nhắc đến có thể không phải là công trình đèn Quảng Chiếu được tổ chức dưới thời Lý Nhân Tông được ghi chép trong bia Sùng Thiện Diên Linh.

Phụng dựng và mô phỏng Đài Đèn Quảng Chiếu

Ở bài viết này chúng tôi sẽ bổ sung về hình thức của đài đèn ở khu vực khảo cổ này với kiến trúc trung tâm được xác định bởi 2 vòng hố cột và 1 trụ xoay ở giữa. Kết quả khảo cổ học ở di tích này cho thấy phần móng cột xoay là thành phần chịu lực chính nên được gia cố chân rất chắc chắn, trong khi đó các hố cột bên ngoài không được gia cố. Vì thế các vòng cột bên ngoài chính là các cột đỡ sàn đỡ 2 lớp sàn cao tạo thành 2 tầng đài, mặt sàn được đục lỗ kết hợp với cối xoay tạo thành 1 trục xoay cho kết cấu cây đèn lộ thiên phía trên, phía dưới sàn tạo thành một không gian có thể bố trí đòn quay ở phần dưới trụ xoay. Về tính thẩm mỹ và chức năng của cây đèn, việc bố trí như thế cũng sẽ hợp lý hơn việc sử dụng toàn bộ 36 cây cột để dựng lầu chứa đèn. Hình thức tương tự cũng được sử dụng ở 2 kiến trúc phụ phía Đông – Tây, với trụ xoay tì 1 điểm bên dưới ở cối xoay gỗ, và 1 điểm neo ở giữa sàn được tạo bởi các hàng cột xung quanh, với quy mô nhỏ hơn, đây cũng có thể là hai cây đèn nhỏ.

Hình thức kết cấu như này khá khác so với hình thức Cửu Phẩm Liên Hoa trong một số chùa của Việt Nam hoặc các chuyển luân kinh tạng của Trung Quốc, Nhật Bản còn tồn tại tới ngày nay. Trục xoay trong kiến trúc Cửu phẩm Liên Hoa được tạo thành từ cối xoay dưới đất và 1 đỉnh được neo trên khung mái của ngôi điện chứa cây cửu phẩm, phần kết cấu chính của Cửu Phẩm Liên Hoa nằm giữa 2 điểm trục xoay này. Trục xoay của Chuyển Luân Tạng chùa Long Hưng (Hà Bắc, Trung Quốc) cũng được xác định bởi 1 điểm trên cối xoay dưới mặt đất nhưng điểm phía trên được gác vào sàn của tầng gác, tuy vậy kết cấu chính là cối kinh vẫn nằm giữa 2 điểm xoay này.

Trong khi đó, hình thức cây đèn xoay của đèn Quảng Chiếu được chúng tôi xác định sử dụng 1 điểm xoay là cối đá dưới mặt đất và 1 điểm ở mặt sàn đài, phần kết cấu chính của cây đèn nằm phía trên 2 điểm xoay.
Dù khác biệt với một số loại hình trục xoay còn tồn tại ở Việt Nam, Trung Quốc hay Nhật Bản, nhưng trên thực tế, việc tạo thành 1 trục xoay cho vật thể có thể được xác định ở 2 điểm có vị trí bất kỳ miễn là trục xoay chính có khả năng giữ ổn định vật thể xoay. Hình thức sử dụng trụ xoay được giữ bởi 2 điểm phía dưới không phải không có tiền lệ trong kỹ thuật Đông Á. Một số tranh vẽ thời Tống Nguyên có vẽ một số hình thức cối xay sử dụng bánh răng và sức nước để quay 1 trục xoay được tạo bởi 2 điểm xoay, 1 điểm nằm trên mặt đất hoặc mặt nước, cắm dưới đáy và 1 điểm được gắn vào trên sàn nhà, phần cối xay nằm phía trên 2 điểm này.

Bức họa Dược Sư kinh biến được vẽ vào thời Đường trong hang Mạc Cao 220 tại Đôn Hoàng cũng thể hiện một lễ hội đèn tương tự như Đài đèn Quảng Chiếu với 1 cây đèn lớn ở trung tâm và 2 cây đèn nhỏ có thể quay được ở 2 bên Đông, Tây. Trong có cây đèn lớn trung tâm cũng là một cây đèn lộ thiên được đặt trên sàn gỗ được đỡ bởi đấu củng và các cột cắm dưới mặt nước.

Phục dựng và tham khảo kiến trúc đài đèn Quảng Chiếu

1. Phỏng dựng kết cấu đài đèn Quảng chiếu thời Lý
2. Mặt bằng cụm kiến trúc KT02 khu G. Bản vẽ Viện Khảo Cổ Học
3. Một phần bích họa Dược sư kinh biến trong hang Mạc Cao (Đôn Hoàng) số 220, tu tạo bởi Học viện Nghệ thuật Quốc gia Trung Quốc
4. Tranh vẽ Cối xay sức nước thời Tống trưng bày ở bảo tàng Thượng Hải. Ảnh The Water Mill and Northern Song Imperial Patronage of Art, Commerce, and Science
5. Phần tranh tường chùa Nham Sơn (Sơn Tây). Ảnh 斜阳君
6. Mặt cắt Cửu Phẩm Liên Hoa và nhà phẩm chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Bản vẽ Viện Bảo Tồn

Tham khảo:
– “Kiến trúc một cột và trục xoay thời lý đặt trong bối cảnh kiến trúc Đông Á. Hướng đến giải mã các kiến trúc trục xoay phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long” Phạm Văn Triệu, Phạm Lê Huy
– “Từ di tích tâm linh đặc biệt ở 36 Điện Biên Phủ tìm hiểu kiến trúc tròn, bát giác và lục giác thời Lý tại trung tâm Hoàng Thành Thăng Long” – Đỗ Đức Tuệ, Mai Thùy Linh

Nguồn: Huyền Tinh Tác Đấu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *